Tiểu luận phương pháp luận “nguyên lý về sự phát triển”

Nguyên lý về sự phát triển là một trong hai nguyên lý quan trọng của phép biện chứng duy vật, là cơ sở khoa học cho sự hình thành quan điểm toàn diện.

Nguyên lý về sự phát triển là một trong hai nguyên lý quan trọng của phép biện chứng duy vật, là cơ sở khoa học cho sự hình thành quan điểm toàn diện.

 

Những nội dung liên quan: 

 

Tiểu luận nguyên lý về sự phát triển

Các Phần Chính Bài Viết

Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật phản ánh đặc trưng phổ quát nhất của thế giới, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có sự vận độngphát triển.

Phát triển là những cái mới ra đời thay thế cái cũ, những vẫn trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của cái cũ, cải tạo và phát triển chúng hợp lý để nó trở thành điều kiện, tiền đề vững chắc cho cái mới phát triển nhanh, mạnh, vững hơn. Phát triển là đặc trưng phổ biến, phát triển là một tất yếu khách quan. Hơn nữa mọi nhận thức và thực tiễn trong cuộc sống đều phát triển. Giống như các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử đã có sự phát triển, xuất hiện cái mới phù hợp, hoàn chỉnh hơn. Nhận thấy ý nghĩa quan trọng của nguyên lý về sự phát triển trong chủ nghĩa Mac – Lenin, em đã chọn đề tài: Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của “nguyên lý về sự phát triển” để nhận thức và giải quyết vấn đề: “Sự phát triển của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử”.

Chương I. Nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận “nguyên lý về sự phát triển”

1.1. Nội dung phương pháp luận “nguyên lý về sự phát triển”

1.1.1.  Khái niệm phát triển

Có nhiều quan điểm khác nhau, đối lập  về sự phát triển: quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng. Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới. Những người theo quan điểm siêu hình xem sự phát triển như là một quá trình tiến lên liên tục, không có bước quanh có, phức tạp.

Đối lập với quan điểm siêu hình, quan niệm biện chứng xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao. Quá trình đó diễn ra dần dần, nhảy vọt đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ, không phải lúc nào sự phát triển cũng diễn ra theo đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có những bước lùi tạm thời. Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kì sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn. Quan điểm biện chứng cũng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật.

Trên cơ sở khái quát sự phát triển của sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định phát triển là một phạm trù triết học dùng đề chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Theo quan điểm này, phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung. Nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động – xu hướng vận động đi lên của sự vật.

1.1.2.  Tính chất của phương pháp luận

Các quá trình phát triển đền có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.

Trước hết, tính khách quan của sự phát triển được biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển. Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân của sự vật, hiện tượng là quá trình giải quyết mâu thuẫn của sự vật, hiên tượng đó. Tính chất này là thuộc tính tất yếu không phụ thuộc vào ý thức con người.

Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong một lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật và hiện tượng trong quá trình, mọi giai đoạn của sự vật hiện tượng đó. Trong mỗi quá trình biến đổi đã có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời phù hợp với quy luật khách quan.

Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh hướng phát triển của sự vật hiện tượng song mỗi sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau, tồn tại ở những thời gian, không gian khác nhau, chịu những ảnh hưởng khác nhau và sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng quá trình phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm sự vật, hiện tượng thụt lùi tạm thời…

1.2. Ý nghĩa của phương pháp luận “nguyên lý về sự phát triển”

Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Theo nguyên lý này, trong mọi nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển. Theo V.I.Lenin, “… Logic biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động”’…, trong sự biến đổi của nó”. Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển.

Theo quan điểm phát triển, để nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề gì trong thực tiễn, một mặt cần phải đặt sự vật theo khuynh hướng đi lên của nó vì vậy đòi hỏi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển của nó. Để nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề gì trong thực tiễn, một mặt, cần phải đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên của nó; mặt khác, con đường của sự phát triển lại là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch, đầy mâu thuẫn, vì vậy, đòi hòi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển của nó, tức là cần phải có quan điểm lịch sử – cụ thể trong nhận thức và giải quyết các vấn đề của thực tiễn, phù hợp với tính chất phong phú, đa dạng, phức tạp của nó.

Chương II: Vận dụng nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận của “nguyên lý về sự phát triển” để nhận thức và giải quyết vấn đề: “Sự phát triển của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử”

2.1. Các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử

2.1.1. Các kiểu nhà nước trong lịch sử

Lý luận Mac – Lenin về nhà nước và pháp luật đã đưa ra khái niệm kiểu nhà nước trong lịch sử: Kiểu nhà nước là tổng thể những dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản, đặc thù của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Cơ sở để xác định kiểu nhà nước là học thuyết Mac – Lenin về các hình thái kinh tế xã hội. Mỗi kiểu nhà nước phù hợp với một chế độ kinh tế nhất định của một xã hội có giai cấp. Đặc điểm chung của mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ quyết định những dấu hiệu cơ bản, đặc thù của một kiểu nhà nước tương ứng. Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế xã hội: Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Phù hợp với bốn hình thái kinh tế xã hội đó đã có bốn kiểu nhà nước: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

 2.1.2. Các hình thức nhà nước trong lịch sử

Hình thức nhà nước là cách tổ chức quyền lực nhà nước và những phương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước. Hình thức nhà nước là một khái niệm chung được hình thành từ ba yếu tố cụ thể: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị. Có hai loại hình thức nhà nước đó là hình thức chính thể và hình thức cấu trúc. Trong hình thức chính thể có hình thức chính thể quân chủ và hình thức chính thể cộng hòa. Còn trong hình thức cấu trúc có hình thức nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang.

2.2. Tính khách quan của sự phát triển thể hiện trong sự xuất hiện của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử

Sự xuất hiện các kiểu và hình thức nhà nước là tính tất yếu khách quan. Đây là một biểu hiện quan trọng của quy luật phát triển các hình thái kinh tế xã hội trong thượng tầng chính trị pháp lý. Xét theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lenin trong phép duy vật biện chứng thì một hình thái kinh tế xã hội là 1 sự vật khách quan còn lực lượng sản xuất là mặt nội dung và quan hệ sản xuất là hình thức của hình thái kinh tế xã hội. Quan hệ sản xuất biến đổi chậm hơn, lúc đầu quan hệ sản xuất còn là thích hợp cho lực lượng sản xuất. Nhưng do lực lượng sản xuất biến đổi nhanh hơn nên sẽ đến lúc quan hệ sản xuất lạc hậu hơn so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sẽ trở thành yếu tố kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Để mở dường cho lực lượng sản xuất phát triển, con người phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất. Sự thay đổi của phương thức sản xuất là một điều khách quan bởi bản thân quan hệ sản xuất là một sự vật, mang tính tất yếu là do sự phát triển của lực lượng sản xuất là không ngừng, con người ngày càng phát triển và nhận thức sâu sắc hơn về thế giới khách quan.

Trong suốt quá trình lịch sử thế giới đã có 04 kiểu nhà nước và 02 hình thức nhà nước ra đời, đều do sự ra đời và thay thế các hình thái kinh tế xã hội.

Nhà nước chủ nô là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử, ra đời trên cơ sở tan rã của chế độ thị tộc, bộ lạc, gắn liền với chế độ tư hữu và phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng. Quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ được xây dựng dựa trên cơ sở chế độ chiếm hữu của chủ nô đối với toàn bộ tư liệu sản xuất và người nô lệ. Sự bóc lột không có giới hạn của chủ nô làm cho mâu thuẫn chủ nô và nô lệ ngày càng gay gắt. Nô lệ không muốn bị bóc lột, họ đứng lên đấu tranh chống lại chủ nô. Mặt khác, giai cấp chủ nô cũng nhận thấy không thể duy trì quan hệ sản xuất cũ. Họ giải phóng nô lệ, giao đất canh tác cho họ và thu thuế trên những vùng đất đó. Chính điều đó đã dẫn đến sự chuyển hoá dần từ phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ sang phương thức sản xuất phong kiến. Nhà nước chiếm hữu nô lệ dần bị diệt vong và thay vào đó là nhà nước phong kiến. Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là quan hệ sản xuất phong kiến đặc trưng bằng chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất và một phần sức lao động của nông dân. Nông dân không có ruộng đất, phải làm thuê cho địa chủ và nộp tô thuế. Trên cơ sở đó, công cuộc tích luỹ tư bản được tiến hành, hình thành hai giai cấp mới tư sản và vô sản. Giai cấp tư sản đang lên, có vị thế kinh tế nhưng lại bị chế độ phong kiến và giáo hội cùng quan hệ sản xuất phong kiến kìm hãm. Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và chế độ phong kiến ngày càng gay gắt, họ đứng lên đấu tranh. Hình thái kinh tế xã hội phong kiến dần bị thay thế bởi hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa và nhà nước tư sản ra đời thay thế nhà nước phong kiến.

Cơ sở kinh tế của nhà nước tư sản là các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, chủ yếu dựa trên chế độ tư hữu về tư kiệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư. Người nông dân, công nhân vẫn tự do tuy nhiên, do không có tư liệu sản xuất, người công nhân phải làm thuê, và kết quả, họ vẫn lệ thuộc vào nhà tư sản. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở thời kì đầu là những quan hệ sản xuất tiến bộ so với quan hệ sản xuất phong kiến, tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự phát triển lực lượng sản xuất. Nhưng mâu thuẫn này ngày càng gay gắt, đòi hỏi phải có một cuộc cách mạng để xoá bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đó là kiểu quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất sẽ dẫn đến sự thay thế hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa tư bản sang xã hội chủ nghĩa và sự thay thế kiểu nhà nước tư sản bằng kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Hình thức chính thể quân chủ tồn tại trong ba kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến và tư sản. Trong nhà nước chủ nô tồn tại ở cả hai dạng của chính thể cộng hòa là quý tộc và dân chủ. Tiêu biểu cho chính thể cộng hòa quý tộc là nhà nước La Mã và Spac. Còn chính thể cộng hòa dân chủ là nhà nước Aten. Chính thể này tồn tại ở giai đoạn đầu của nhà nước chủ nô, giai đoạn sau này do cần tập trung vào quyền lực để tạo sự thống nhất trên quy mô lớn, đặc biệt sau khi gây chiến tranh xâm lược và mở rộng lãnh thổ, chính thể cộng hòa dần được thế chỗ bởi chính thể quân chủ. Nhà nước phong kiến chính thể cộng hòa chỉ được thiết lập ở một số thành phố lớn của châu Âu trong thế kỷ XVI. Trong nhà nước tư sản thì chính thể cộng hòa đã được áp dụng phổ biến và trở thành hình thức chính thể cơ bản. Nhưng chỉ còn dạng cộng hòa dân chủ là tồn tại với ba hình thức cơ bản là cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghị và cộng hòa cộng hòa hỗn hợp (hay cộng hòa lưỡng tính). Tất cả các nhà nước Xã hội chủ nghĩa đều có chính thể cộng hòa dân chủ được đặc trưng bằng sự tham gia rộng rãi của nhân dân lao động vào việc thành lập các cơ quan đại diện. Về cơ bản đây là hình thức cai trị tiến bộ hơn chế độ quân chủ, nó đã khắc phục được những mặt yếu của chính thể quân chủ. Quyền lực tối cao của nhà nước trong chính thể cộng hòa nằm trong tay của một hoặc một số cơ quan được bầu ra theo nhiệm kì nhất định. Phương thức trao quyền lực được quy định về mặt hình thức pháp lý. Trong các nước cộng hòa quý tộc, quyền đó chỉ quy định đối với tầng lớp quý tộc. Và quyền lực đó chỉ tồn tại trong một nhiệm kì nhất định.

Cả nhà nước chủ nô, phong kiến hầu như đều có cấu trúc đơn nhất, hãn hữu mới gặp cấu trúc liên bang. Khi nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện thì hình thức nhà nước liên bang mới phổ biến.

2.3. Tính phổ biến của sự phát triển thể hiện trong sự ra đời kiểu và hình thức nhà nước mới ưu việt, tốt hơn kiểu nhà nước cũ

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lenin thì sự thay thế các kiểu nhà nước tuân theo nguyên lý của sự phát triển. Nhà nước mới bao giờ cũng đại diện cho phương thức sản xuất mới, dựa trên phương thức sản xuất mới và thúc sự phát triển của phương thức sản xuất mới. Đó là sự hoàn thiện trong quá trình phát triển của các kiểu nhà nước. Nhà nước chiếm nô là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử, ra đời và phát triển dựa trên quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và hình thái kinh tế xã hội, kiểu nhà nước phong kiến ra đời thay thế nhà nước chủ nô.

Vì là đại diện cho phương thức sản xuất mới nên nhà phong kiến có nhiều điểm tiến bộ hơn nhà nước chủ nô. Sự xuất hiện của nó đánh dấu một bước phát triển mới của xã hội loài người, nó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội mà đặc biệt là xoá bỏ ách nô lệ cho những người lao động, nâng cao năng suất lao động xã hội. Hình thức bóc lột của nhà nước phong kiến tinh vi hơn, đỡ tàn bạo hơn nhà nước chủ nô. Nông dân đã có kinh tế riêng, có một số quyền công dân, có thể lập gia đình riêng. Về chức năng, hình thức, bộ máy nhà nước phong kiến tiến bộ hơn, tổ chức chặt chẽ, hình thức đa dạng hơn.

Nhà nước tư sản là kiểu nhà nước hoàn thiện nhất trong lịch sử các kiểu nhà nước bóc lột. So với quan hệ sản xuất phong kiến, nông dân, công nhân được tự do, về hình thức bình đẳng với chủ như những công dân. Tuy nhiên, do không có tư liệu sản xuất, họ vẫn bị lệ thuộc vào giai cấp tư sản. Hình thức bóc lột của giai cấp tư sản với giai cấp vô sản tinh vi và vô hình hơn. Xét về mặt lịch sử, nhà nước tư sản với những thể chế dân chủ là một tiến bộ lớn so với nhà nước phong kiến, đặc biệt trong thời kì đầu đã xác lập những thể chế dân chủ nghị viện, quyền tự do dân chủ, phổ thông đầu phiếu… Nhưng sau đó, các quyền tự do dân chủ ngày càng bị thu hẹp. Nhà nước tư sản cũng rất đa dạng về hình thức do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế, tương quan lực lượng giữa các giai cấp và mức độ mâu thuẫn giữa chúng.

Tuy là kiểu nhà nước hoàn chỉnh hơn nhưng nhà nước tư sản vẫn có bản chất là nhà nước bóc lột. Và tuân theo quy luật tất yếu của lịch sử, nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời. Đây là kiểu nhà nước ưu việt ,tiến bộ nhất và là kiểu nhà nước cuối cùng. Tính ưu việt tiến bộ nhất của nó được thể hiện trên mọi mặt. Với cơ sở kinh tế là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mà đặc trưng là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, lao động là nghĩa vụ của tất cả các thanh viên trong xã hội, thực hiện nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động. Các thành viên trong xã hội hoàn toàn bình đẳng trong sở hữu về tư liệu sản xuất, trong lao động và trong hưởng thụ. Nền tảng xã hội là liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, dân chủ là thuộc tính của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

2.4. Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển trong các kiểu và hình thức nhà nước

Phát triển là khuynh hướng tất yếu của các kiểu nhà nước trong lịch sử. Trong những thời gian, điều kiện khác nhau mà sẽ hình thành nên kiểu nhà nước khác nhau. Bên cạnh đó, sự tác động của nhiều yếu tố, điều kiện lịch sử cũng làm thay đổi chiều hướng phát triển, có khi làm thụt lùi đi. Ví dụ như bệnh bảo thủ trì trệ, bệnh giáo điền cùng với bệnh chủ quan duy ý chí là những căn bệnh chung của các nước Xã hội chủ nghĩa và nó gây ra hậu quả tất yếu là làm cản trở, thậm chí kéo lùi sự phát triển của kinh tế – xã hội, đưa chúng ta đến sai lầm nghiêm trọng. Hay trong kiểu nhà nước tư sản, việc bóc lột nhân công quá mức, thu hẹp quyền dân chủ trong xã hội đã khiến cho xã hội ngày càng nhiều mâu thuẫn, gây nên khủng hoảng về kinh tế, làm giảm tốc độ phát triển, làm cho nhà nước ấy tạm thời thụt lùi đi.

2.5. Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận để giải quyết vấn đề: “Sự phát triển của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử”

Vận dụng quan điểm về sự phát triển vào vấn đề “Sự phát triển của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử”, giúp chúng ta nhận thức đúng về sự xuất hiện của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử, thấy được sự phát triển là quá trình khó khăn, phức tạp. Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển. Khi một kiểu và hình thức nhà nước mới xuất hiện, nó sẽ khắc phục được những hạn chế trong kiểu và hình thức nhà nước cũ. Khi kiểu Nhà nước tư sản ra đời, công nhân, nông dân đã có sự bình đẳng với chủ như công dân, đó là điểm mới mà trong nhà nước phong kiến và chủ nô chưa từng xuất hiện. Nó phát triển theo quy luật loại bỏ dần những cái không tốt để xây dựng lên một cái hoàn thiện hơn phù hợp với sự phát triển.

Sự phát triển của kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử là vô cùng phức tạp, quanh co, vì vậy phương pháp luận nguyên lí về sự phát triển giúp ta nhận thức được rằng để hiểu, giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, cần phải đặt hiện tượng ấy dưới nhiều góc độ theo hướng đi lên của nó, trong quá trình ấy bao hàm cả tính thuận nghịch và tính mâu thuẫn. Sự thay thế kiểu và hình thức nhà nước này bằng kiểu nhà nước khác trong lịch sử là một quy luật tất yếu, khách quan của lịch sử. Mặc dù hiện nay, sự thay thế này diễn ra chưa hoàn toàn bởi nhà nước xã hội chủ nghĩa chưa được thiết lập trên toàn thế giới, nhưng trong tương lai, nhà nước tư sản sẽ tiêu vong, nhà nước xã hội chủ nghĩa – kiểu nhà nước tiến bộ nhất và là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử sẽ được xác lập trên toàn thế giới. Và sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ tiêu vong, sau đó sẽ không còn một kiểu nhà nước nào khác nữa.

KẾT LUẬN

Việc tìm hiểu về sự phát triển của các kiểu và hình thức nhà nước qua nguyên lý về sự phát triển, chúng ta có thể thấy rằng mỗi kiểu nhà nước mang đặc trưng riêng, cái mới sẽ là sự loại bỏ cái xấu trong kiểu nhà nước cũ, bổ sung thêm những cái tốt đẹp để dẫn đến một kiểu nhà nước hoàn thiện nhất công bằng, dân chủ; các hình thức nhà nước thể hiện các kiểu nhà nước. Đó là sự đi lên từ kiểu nhà nước có trình độ kinh tế – xã hội thấp đến kiểu nhà nước có trình độ cao hơn, hoàn thiện hơn; từ hình thức nhà nước này đến hình thức nhà nước khác hoàn thiện hơn, công bằng hơn. Trong quá trình phát triển ấy nó sẽ đấu tranh để loại bỏ những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao những nhân tố tích cực có sẵn trong kiểu nhà nước trước nó. Khi đã có nhận thức đúng đắn về nguyên lý của sự phát triển, con người sẽ cái nhìn thấu đáo hơn về quá trình phát triển của các kiểu và hình thức nhà nước, có thể lí giải được vì sao kiểu nhà nước này bị tiêu vong, kiểu nhà nước mới được hình thành; hình thức nhà nước này phổ biến trong kiểu nhà nước này, không phổ biến trong nhà nước kia. Thông qua đây, em có thêm hiểu biết là phương pháp luận nguyên lý về sự phát triển. Sự hiểu biết của em còn hạn chế, thiếu sót rất mong được thầy cô chỉ bảo để bài làm được hoàn chỉnh.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Giáo trình Những nguyên lý của chủ nghĩa Mac – Lenin, Bộ giáo dục và Đạo tạo, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015
  2. Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac – Lenin. Phần 1 của tác giả Nguyễn Minh Tuấn
  3. Bộ giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (dành cho sinh viên Đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mac – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013
  4. Giáo trình Lí luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Trường đại học Luật Hà Nội, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2017
  5. Lê Văn Lực, Trần văn Phòng (đồng chủ biên), Một số chuyên đề về Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac – Lenin (tập 1), NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008.

Các tìm kiếm liên quan đến Phương pháp luận “nguyên lý về sự phát triển”, ví dụ ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về sự phát triển, tiểu luận nguyên lý về sự phát triển, vận dụng nguyên lý về sự phát triển trong cuộc sống, câu hỏi nguyên lý về sự phát triển, nguyên lý về sự phát triển powerpoint, tiểu luận nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật, bài giảng nguyên lý về sự phát triển, ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

5/5 – (21231 bình chọn)

Tiểu luận nguyên lý về sự phát triển

Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật phản ánh đặc trưng phổ quát nhất của thế giới, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có sự vận độngphát triển.

Phát triển là những cái mới ra đời thay thế cái cũ, những vẫn trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của cái cũ, cải tạo và phát triển chúng hợp lý để nó trở thành điều kiện, tiền đề vững chắc cho cái mới phát triển nhanh, mạnh, vững hơn. Phát triển là đặc trưng phổ biến, phát triển là một tất yếu khách quan. Hơn nữa mọi nhận thức và thực tiễn trong cuộc sống đều phát triển. Giống như các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử đã có sự phát triển, xuất hiện cái mới phù hợp, hoàn chỉnh hơn. Nhận thấy ý nghĩa quan trọng của nguyên lý về sự phát triển trong chủ nghĩa Mac – Lenin, em đã chọn đề tài: Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của “nguyên lý về sự phát triển” để nhận thức và giải quyết vấn đề: “Sự phát triển của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử”.

Chương I. Nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận “ nguyên lý về sự phát triển ”

1.1. Nội dung phương pháp luận “ nguyên lý về sự phát triển ”

1.1.1.  Khái niệm phát triển

Có nhiều quan điểm khác nhau, trái chiều về sự phát triển : quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng. Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên, giảm thuần túy về lượng, không có sự đổi khác gì về mặt chất của sự vật ; hoặc nếu có sự đổi khác nhất định về chất thì sự biến hóa ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới. Những người theo quan điểm siêu hình xem sự phát triển như thể một quy trình tiến lên liên tục, không có bước quanh có, phức tạp .
Đối lập với quan điểm siêu hình, ý niệm biện chứng xem xét sự phát triển là một quy trình tiến lên từ thấp đến cao. Quá trình đó diễn ra từ từ, nhảy vọt đưa tới sự sinh ra của cái mới sửa chữa thay thế cái cũ, không phải khi nào sự phát triển cũng diễn ra theo đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí còn có những bước lùi trong thời điểm tạm thời. Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là hiệu quả của quy trình đổi khác từ từ về lượng dẫn đến sự đổi khác về chất, là quy trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kì sự vật lặp lại có vẻ như sự vật bắt đầu nhưng ở Lever cao hơn. Quan điểm biện chứng cũng chứng minh và khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật .
Trên cơ sở khái quát sự phát triển của sự vật, hiện tượng kỳ lạ sống sót trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định chắc chắn phát triển là một phạm trù triết học dùng đề chỉ quy trình hoạt động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn thuần đến phức tạp, từ kém hoàn thành xong đến triển khai xong hơn. Theo quan điểm này, phát triển không bao quát hàng loạt sự hoạt động nói chung. Nó chỉ khái quát xu thế chung của sự hoạt động – khuynh hướng hoạt động đi lên của sự vật .

1.1.2.  Tính chất của phương pháp luận

Các quy trình phát triển đền có tính khách quan, tính phổ cập và tính phong phú, phong phú và đa dạng .
Trước hết, tính khách quan của sự phát triển được biểu lộ trong nguồn gốc của sự hoạt động và phát triển. Đó là quy trình bắt nguồn từ bản thân của sự vật, hiện tượng kỳ lạ là quy trình xử lý xích míc của sự vật, hiên tượng đó. Tính chất này là thuộc tính tất yếu không nhờ vào vào ý thức con người .
Tính thông dụng của sự phát triển được bộc lộ ở những quy trình phát triển diễn ra trong một nghành tự nhiên, xã hội và tư duy ; trong toàn bộ mọi sự vật và hiện tượng kỳ lạ trong quy trình, mọi tiến trình của sự vật hiện tượng kỳ lạ đó. Trong mỗi quy trình đổi khác đã hoàn toàn có thể bao hàm năng lực dẫn đến sự sinh ra tương thích với quy luật khách quan .
Tính phong phú, nhiều mẫu mã của sự phát triển được bộc lộ ở chỗ : phát triển là khuynh hướng phát triển của sự vật hiện tượng kỳ lạ tuy nhiên mỗi sự vật hiện tượng kỳ lạ lại có quy trình phát triển không giống nhau, sống sót ở những thời hạn, khoảng trống khác nhau, chịu những tác động ảnh hưởng khác nhau và sự tác động ảnh hưởng đó hoàn toàn có thể làm biến hóa khunh hướng quy trình phát triển của sự vật, đôi lúc hoàn toàn có thể làm sự vật, hiện tượng kỳ lạ thụt lùi trong thời điểm tạm thời …

1.2. Ý nghĩa của phương pháp luận “ nguyên lý về sự phát triển ”

Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Theo nguyên lý này, trong mọi nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển. Theo V.I.Lenin, “… Logic biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động”’…, trong sự biến đổi của nó”. Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển.

Theo quan điểm phát triển, để nhận thức và xử lý bất kể yếu tố gì trong thực tiễn, một mặt cần phải đặt sự vật theo khuynh hướng đi lên của nó thế cho nên yên cầu phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng kỳ lạ trong quy trình phát triển của nó. Để nhận thức và xử lý bất kể yếu tố gì trong thực tiễn, một mặt, cần phải đặt sự vật, hiện tượng kỳ lạ theo khuynh hướng đi lên của nó ; mặt khác, con đường của sự phát triển lại là một quy trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch, đầy xích míc, vì thế, đòi hòi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng kỳ lạ trong quy trình phát triển của nó, tức là cần phải có quan điểm lịch sử dân tộc – đơn cử trong nhận thức và xử lý những yếu tố của thực tiễn, tương thích với đặc thù đa dạng và phong phú, phong phú, phức tạp của nó .

Chương II : Vận dụng nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận của “ nguyên lý về sự phát triển ” để nhận thức và xử lý yếu tố : “ Sự phát triển của những kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử dân tộc ”

2.1. Các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử

2.1.1. Các kiểu nhà nước trong lịch sử

Lý luận Mac – Lenin về nhà nước và pháp lý đã đưa ra khái niệm kiểu nhà nước trong lịch sử vẻ vang : Kiểu nhà nước là tổng thể và toàn diện những tín hiệu ( đặc thù ) cơ bản, đặc trưng của nhà nước, biểu lộ thực chất giai cấp và những điều kiện kèm theo sống sót và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Cơ sở để xác lập kiểu nhà nước là học thuyết Mac – Lenin về những hình thái kinh tế xã hội. Mỗi kiểu nhà nước tương thích với một chính sách kinh tế tài chính nhất định của một xã hội có giai cấp. Đặc điểm chung của mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ quyết định hành động những tín hiệu cơ bản, đặc trưng của một kiểu nhà nước tương ứng. Trong lịch sử vẻ vang xã hội có giai cấp đã sống sót bốn hình thái kinh tế xã hội : Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Phù hợp với bốn hình thái kinh tế xã hội đó đã có bốn kiểu nhà nước : Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa .

 2.1.2. Các hình thức nhà nước trong lịch sử

Hình thức nhà nước là cách tổ chức triển khai quyền lực tối cao nhà nước và những giải pháp để thực thi quyền lực tối cao nhà nước. Hình thức nhà nước là một khái niệm chung được hình thành từ ba yếu tố đơn cử : hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chính sách chính trị. Có hai loại hình thức nhà nước đó là hình thức chính thể và hình thức cấu trúc. Trong hình thức chính thể có hình thức chính thể quân chủ và hình thức chính thể cộng hòa. Còn trong hình thức cấu trúc có hình thức nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang .

2.2. Tính khách quan của sự phát triển thể hiện trong sự xuất hiện của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử

Sự Open những kiểu và hình thức nhà nước là tính tất yếu khách quan. Đây là một biểu lộ quan trọng của quy luật phát triển những hình thái kinh tế xã hội trong thượng tầng chính trị pháp lý. Xét theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lenin trong phép duy vật biện chứng thì một hình thái kinh tế xã hội là 1 sự vật khách quan còn lực lượng sản xuất là mặt nội dung và quan hệ sản xuất là hình thức của hình thái kinh tế xã hội. Quan hệ sản xuất biến hóa chậm hơn, lúc đầu quan hệ sản xuất còn là thích hợp cho lực lượng sản xuất. Nhưng do lực lượng sản xuất biến hóa nhanh hơn nên sẽ đến lúc quan hệ sản xuất lỗi thời hơn so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sẽ trở thành yếu tố ngưng trệ lực lượng sản xuất phát triển. Để mở dường cho lực lượng sản xuất phát triển, con người phải đổi khác quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới tương thích với lực lượng sản xuất. Sự biến hóa của phương thức sản xuất là một điều khách quan bởi bản thân quan hệ sản xuất là một sự vật, mang tính tất yếu là do sự phát triển của lực lượng sản xuất là không ngừng, con người ngày càng phát triển và nhận thức thâm thúy hơn về quốc tế khách quan .
Trong suốt quy trình lịch sử dân tộc quốc tế đã có 04 kiểu nhà nước và 02 hình thức nhà nước sinh ra, đều do sự sinh ra và thay thế sửa chữa những hình thái kinh tế xã hội .

Nhà nước chủ nô là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử, ra đời trên cơ sở tan rã của chế độ thị tộc, bộ lạc, gắn liền với chế độ tư hữu và phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng. Quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ được xây dựng dựa trên cơ sở chế độ chiếm hữu của chủ nô đối với toàn bộ tư liệu sản xuất và người nô lệ. Sự bóc lột không có giới hạn của chủ nô làm cho mâu thuẫn chủ nô và nô lệ ngày càng gay gắt. Nô lệ không muốn bị bóc lột, họ đứng lên đấu tranh chống lại chủ nô. Mặt khác, giai cấp chủ nô cũng nhận thấy không thể duy trì quan hệ sản xuất cũ. Họ giải phóng nô lệ, giao đất canh tác cho họ và thu thuế trên những vùng đất đó. Chính điều đó đã dẫn đến sự chuyển hoá dần từ phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ sang phương thức sản xuất phong kiến. Nhà nước chiếm hữu nô lệ dần bị diệt vong và thay vào đó là nhà nước phong kiến. Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là quan hệ sản xuất phong kiến đặc trưng bằng chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất và một phần sức lao động của nông dân. Nông dân không có ruộng đất, phải làm thuê cho địa chủ và nộp tô thuế. Trên cơ sở đó, công cuộc tích luỹ tư bản được tiến hành, hình thành hai giai cấp mới tư sản và vô sản. Giai cấp tư sản đang lên, có vị thế kinh tế nhưng lại bị chế độ phong kiến và giáo hội cùng quan hệ sản xuất phong kiến kìm hãm. Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và chế độ phong kiến ngày càng gay gắt, họ đứng lên đấu tranh. Hình thái kinh tế xã hội phong kiến dần bị thay thế bởi hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa và nhà nước tư sản ra đời thay thế nhà nước phong kiến.

Cơ sở kinh tế tài chính của nhà nước tư sản là những quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đa phần dựa trên chính sách tư hữu về tư kiệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư. Người nông dân, công nhân vẫn tự do tuy nhiên, do không có tư liệu sản xuất, người công nhân phải làm thuê, và hiệu quả, họ vẫn chịu ràng buộc vào nhà tư sản. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở thời kì đầu là những quan hệ sản xuất văn minh so với quan hệ sản xuất phong kiến, tạo ra điều kiện kèm theo thuận tiện cho sự phát triển lực lượng sản xuất. Nhưng xích míc này ngày càng nóng bức, yên cầu phải có một cuộc cách mạng để xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, thiết lập một quan hệ sản xuất mới tương thích với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đó là kiểu quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chính sách công hữu về tư liệu sản xuất. Cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất sẽ dẫn đến sự thay thế sửa chữa hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa tư bản sang xã hội chủ nghĩa và sự thay thế sửa chữa kiểu nhà nước tư sản bằng kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa .
Hình thức chính thể quân chủ sống sót trong ba kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến và tư sản. Trong nhà nước chủ nô sống sót ở cả hai dạng của chính thể cộng hòa là quý tộc và dân chủ. Tiêu biểu cho chính thể cộng hòa quý tộc là nhà nước La Mã và Spac. Còn chính thể cộng hòa dân chủ là nhà nước Aten. Chính thể này sống sót ở tiến trình đầu của nhà nước chủ nô, quy trình tiến độ sau này do cần tập trung chuyên sâu vào quyền lực tối cao để tạo sự thống nhất trên quy mô lớn, đặc biệt quan trọng sau khi gây cuộc chiến tranh xâm lược và lan rộng ra chủ quyền lãnh thổ, chính thể cộng hòa dần được thế chỗ bởi chính thể quân chủ. Nhà nước phong kiến chính thể cộng hòa chỉ được thiết lập ở 1 số ít thành phố lớn của châu Âu trong thế kỷ XVI. Trong nhà nước tư sản thì chính thể cộng hòa đã được vận dụng phổ cập và trở thành hình thức chính thể cơ bản. Nhưng chỉ còn dạng cộng hòa dân chủ là sống sót với ba hình thức cơ bản là cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghị và cộng hòa cộng hòa hỗn hợp ( hay cộng hòa lưỡng tính ). Tất cả những nhà nước Xã hội chủ nghĩa đều có chính thể cộng hòa dân chủ được đặc trưng bằng sự tham gia thoáng rộng của nhân dân lao động vào việc xây dựng những cơ quan đại diện thay mặt. Về cơ bản đây là hình thức quản lý tân tiến hơn chế độ quân chủ, nó đã khắc phục được những mặt yếu của chính thể quân chủ. Quyền lực tối cao của nhà nước trong chính thể cộng hòa nằm trong tay của một hoặc một số ít cơ quan được bầu ra theo nhiệm kì nhất định. Phương thức trao quyền lực tối cao được lao lý về mặt hình thức pháp lý. Trong những nước cộng hòa quý tộc, quyền đó chỉ pháp luật so với những tầng lớp quý tộc. Và quyền lực tối cao đó chỉ sống sót trong một nhiệm kì nhất định .
Cả nhà nước chủ nô, phong kiến phần nhiều đều có cấu trúc đơn nhất, hãn hữu mới gặp cấu trúc liên bang. Khi nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa Open thì hình thức nhà nước liên bang mới phổ cập .

2.3. Tính thông dụng của sự phát triển biểu lộ trong sự sinh ra kiểu và hình thức nhà nước mới ưu việt, tốt hơn kiểu nhà nước cũ

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lenin thì sự sửa chữa thay thế những kiểu nhà nước tuân theo nguyên lý của sự phát triển. Nhà nước mới khi nào cũng đại diện thay mặt cho phương thức sản xuất mới, dựa trên phương thức sản xuất mới và thúc sự phát triển của phương thức sản xuất mới. Đó là sự hoàn thành xong trong quy trình phát triển của những kiểu nhà nước. Nhà nước chiếm nô là kiểu nhà nước tiên phong trong lịch sử dân tộc, sinh ra và phát triển dựa trên quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và hình thái kinh tế xã hội, kiểu nhà nước phong kiến sinh ra sửa chữa thay thế nhà nước chủ nô .
Vì là đại diện thay mặt cho phương thức sản xuất mới nên nhà phong kiến có nhiều điểm tân tiến hơn nhà nước chủ nô. Sự Open của nó lưu lại một bước phát triển mới của xã hội loài người, nó đã tạo ra những điều kiện kèm theo thuận tiện cho sự phát triển kinh tế tài chính xã hội mà đặc biệt quan trọng là xóa bỏ ách nô lệ cho những người lao động, nâng cao hiệu suất lao động xã hội. Hình thức bóc lột của nhà nước phong kiến phức tạp hơn, đỡ tàn khốc hơn nhà nước chủ nô. Nông dân đã có kinh tế tài chính riêng, có một số ít quyền công dân, hoàn toàn có thể lập mái ấm gia đình riêng. Về công dụng, hình thức, cỗ máy nhà nước phong kiến tân tiến hơn, tổ chức triển khai ngặt nghèo, hình thức phong phú hơn .
Nhà nước tư sản là kiểu nhà nước hoàn thành xong nhất trong lịch sử dân tộc những kiểu nhà nước bóc lột. So với quan hệ sản xuất phong kiến, nông dân, công nhân được tự do, về hình thức bình đẳng với chủ như những công dân. Tuy nhiên, do không có tư liệu sản xuất, họ vẫn bị chịu ràng buộc vào giai cấp tư sản. Hình thức bóc lột của giai cấp tư sản với giai cấp vô sản phức tạp và vô hình dung hơn. Xét về mặt lịch sử vẻ vang, nhà nước tư sản với những thể chế dân chủ là một tân tiến lớn so với nhà nước phong kiến, đặc biệt quan trọng trong thời kì đầu đã xác lập những thể chế dân chủ nghị viện, quyền tự do dân chủ, đại trà phổ thông đầu phiếu … Nhưng sau đó, những quyền tự do dân chủ ngày càng bị thu hẹp. Nhà nước tư sản cũng rất phong phú về hình thức do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế tài chính, tương quan lực lượng giữa những giai cấp và mức độ xích míc giữa chúng .
Tuy là kiểu nhà nước hoàn hảo hơn nhưng nhà nước tư sản vẫn có thực chất là nhà nước bóc lột. Và tuân theo quy luật tất yếu của lịch sử vẻ vang, nhà nước xã hội chủ nghĩa sinh ra. Đây là kiểu nhà nước ưu việt, văn minh nhất và là kiểu nhà nước sau cuối. Tính ưu việt văn minh nhất của nó được biểu lộ trên mọi mặt. Với cơ sở kinh tế tài chính là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mà đặc trưng là chính sách công hữu về tư liệu sản xuất, lao động là nghĩa vụ và trách nhiệm của toàn bộ những thanh viên trong xã hội, thực thi nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động. Các thành viên trong xã hội trọn vẹn bình đẳng trong chiếm hữu về tư liệu sản xuất, trong lao động và trong tận hưởng. Nền tảng xã hội là liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và những tầng lớp tri thức. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước “ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ”, dân chủ là thuộc tính của nhà nước xã hội chủ nghĩa .

2.4. Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển trong các kiểu và hình thức nhà nước

Phát triển là khuynh hướng tất yếu của những kiểu nhà nước trong lịch sử vẻ vang. Trong những thời hạn, điều kiện kèm theo khác nhau mà sẽ hình thành nên kiểu nhà nước khác nhau. Bên cạnh đó, sự tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố, điều kiện kèm theo lịch sử dân tộc cũng làm biến hóa khunh hướng phát triển, có khi làm thụt lùi đi. Ví dụ như bệnh bảo thủ trì trệ, bệnh giáo điền cùng với bệnh chủ quan duy ý chí là những căn bệnh chung của những nước Xã hội chủ nghĩa và nó gây ra hậu quả tất yếu là làm cản trở, thậm chí còn kéo lùi sự phát triển của kinh tế tài chính – xã hội, đưa tất cả chúng ta đến sai lầm đáng tiếc nghiêm trọng. Hay trong kiểu nhà nước tư sản, việc bóc lột nhân công quá mức, thu hẹp quyền dân chủ trong xã hội đã khiến cho xã hội ngày càng nhiều xích míc, gây nên khủng hoảng cục bộ về kinh tế tài chính, làm giảm vận tốc phát triển, làm cho nhà nước ấy trong thời điểm tạm thời thụt lùi đi .

2.5. Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận để xử lý yếu tố : “ Sự phát triển của những kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử vẻ vang ”

Vận dụng quan điểm về sự phát triển vào yếu tố “ Sự phát triển của những kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử dân tộc ”, giúp tất cả chúng ta nhận thức đúng về sự Open của những kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử vẻ vang, thấy được sự phát triển là quy trình khó khăn vất vả, phức tạp. Quan điểm phát triển yên cầu phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, ngưng trệ, định kiến, trái chiều với sự phát triển. Khi một kiểu và hình thức nhà nước mới Open, nó sẽ khắc phục được những hạn chế trong kiểu và hình thức nhà nước cũ. Khi kiểu Nhà nước tư sản sinh ra, công nhân, nông dân đã có sự bình đẳng với chủ như công dân, đó là điểm mới mà trong nhà nước phong kiến và chủ nô chưa từng Open. Nó phát triển theo quy luật vô hiệu dần những cái không tốt để thiết kế xây dựng lên một cái hoàn thành xong hơn tương thích với sự phát triển .
Sự phát triển của kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử vẻ vang là vô cùng phức tạp, quanh co, vì thế phương pháp luận nguyên lí về sự phát triển giúp ta nhận thức được rằng để hiểu, xử lý một yếu tố trong thực tiễn, cần phải đặt hiện tượng kỳ lạ ấy dưới nhiều góc nhìn theo hướng đi lên của nó, trong quy trình ấy bao hàm cả tính thuận nghịch và tính xích míc. Sự thay thế sửa chữa kiểu và hình thức nhà nước này bằng kiểu nhà nước khác trong lịch sử vẻ vang là một quy luật tất yếu, khách quan của lịch sử dân tộc. Mặc dù lúc bấy giờ, sự sửa chữa thay thế này diễn ra chưa trọn vẹn bởi nhà nước xã hội chủ nghĩa chưa được thiết lập trên toàn quốc tế, nhưng trong tương lai, nhà nước tư sản sẽ diệt vong, nhà nước xã hội chủ nghĩa – kiểu nhà nước tân tiến nhất và là kiểu nhà nước sau cuối trong lịch sử dân tộc sẽ được xác lập trên toàn quốc tế. Và sau khi triển khai xong thiên chức lịch sử vẻ vang của mình, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ diệt vong, sau đó sẽ không còn một kiểu nhà nước nào khác nữa .

KẾT LUẬN

Việc khám phá về sự phát triển của những kiểu và hình thức nhà nước qua nguyên lý về sự phát triển, tất cả chúng ta hoàn toàn có thể thấy rằng mỗi kiểu nhà nước mang đặc trưng riêng, cái mới sẽ là sự vô hiệu cái xấu trong kiểu nhà nước cũ, bổ trợ thêm những cái tốt đẹp để dẫn đến một kiểu nhà nước triển khai xong nhất công minh, dân chủ ; những hình thức nhà nước bộc lộ những kiểu nhà nước. Đó là sự đi lên từ kiểu nhà nước có trình độ kinh tế tài chính – xã hội thấp đến kiểu nhà nước có trình độ cao hơn, hoàn thành xong hơn ; từ hình thức nhà nước này đến hình thức nhà nước khác triển khai xong hơn, công minh hơn. Trong quy trình phát triển ấy nó sẽ đấu tranh để vô hiệu những tác nhân xấu đi và thừa kế, nâng cao những tác nhân tích cực có sẵn trong kiểu nhà nước trước nó. Khi đã có nhận thức đúng đắn về nguyên lý của sự phát triển, con người sẽ cái nhìn thấu đáo hơn về quy trình phát triển của những kiểu và hình thức nhà nước, hoàn toàn có thể lí giải được vì sao kiểu nhà nước này bị diệt vong, kiểu nhà nước mới được hình thành ; hình thức nhà nước này phổ cập trong kiểu nhà nước này, không thông dụng trong nhà nước kia. Thông qua đây, em có thêm hiểu biết là phương pháp luận nguyên lý về sự phát triển. Sự hiểu biết của em còn hạn chế, thiếu sót rất mong được thầy cô chỉ bảo để bài làm được hoàn hảo .

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Giáo trình Những nguyên lý của chủ nghĩa Mac – Lenin, Bộ giáo dục và Đạo tạo, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015
  2. Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac – Lenin. Phần 1 của tác giả Nguyễn Minh Tuấn
  3. Bộ giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (dành cho sinh viên Đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mac – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013
  4. Giáo trình Lí luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Trường đại học Luật Hà Nội, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2017
  5. Lê Văn Lực, Trần văn Phòng (đồng chủ biên), Một số chuyên đề về Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac – Lenin (tập 1), NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008.

Các tìm kiếm tương quan đến Phương pháp luận “ nguyên lý về sự phát triển ”, ví dụ ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về sự phát triển, tiểu luận nguyên lý về sự phát triển, vận dụng nguyên lý về sự phát triển trong đời sống, câu hỏi nguyên lý về sự phát triển, nguyên lý về sự phát triển powerpoint, tiểu luận nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật, bài giảng nguyên lý về sự phát triển, ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ cập

5/5 – ( 21231 bầu chọn )

Có thể bạn quan tâm
Alternate Text Gọi ngay
XSMB