Nhà vệ sinh – Wikipedia tiếng Việt

Nhà vệ sinh (tiếng Anh: toilet room) là một căn phòng nhỏ riêng tư với thiết bị vệ sinh (bồn cầu) để đi tiểu và đại tiện thường có bồn rửa (chậu rửa) với xà phòng để rửa tay, vì điều này rất quan trọng đối với vấn đề vệ sinh cá nhân.

Một nhà vệ sinh điển hình ở nước ngoài
Loại phòng này được gọi ” bathroom ” trong tiếng Anh-Mỹ, ” loo ” trong tiếng Anh-Anh, ” washroom ” tại Canada và nhiều tên gọi khác trên khắp quốc tế .Các khu vực công cộng có phân loại nhà vệ sinh phi giới tính cho nam và nữ, hoặc nhà vệ sinh công cộng trung tính cho những người thuộc nhóm LGBT. Ngoài ra còn có những loại nhà vệ sinh khác nhau dành cho người khuyết tật, nhà vệ sinh cha mẹ và con cháu được san sẻ bởi cha mẹ và con cháu .

Khu vực Trung Quốc Đại lục[sửa|sửa mã nguồn]

Thời cổ đại Trung Quốc, chỗ đi vệ sinh hầu hết nằm bên ngoài ngôi nhà, dùng những nơi tương tự và nối với với chuồng lợn.[1] Thông thường chất thải được đào hố và che lấp bằng cỏ tranh (“mao thảo”) nên gọi là mao khanh (hố phủ bằng cây cỏ gianh), mao phòng hay mao xí.

Trong thời kỳ tiền Tần và Hán-Ngụy, nhà vệ sinh được gọi là hành thanh. Thời nhà Tống nhà sư Tuyết Đậu Tăng (雪竇曾) từng dọn nhà vệ sinh trong chùa Linh Ẩn (靈隱寺) vì vậy nhà vệ sinh được gọi là tuyết ẩn (雪隱).

Tên gọi tại Nước Ta[sửa|sửa mã nguồn]

Ở một số vùng tại Việt Nam, người dân gọi nhà vệ sinh là cầu tõm. Danh từ này xuất phát từ thói quen của một số người dân thường ngồi trên một cầu tre bắc qua con mương để đại tiện.

Tại 1 số ít vùng, người ta lại gọi là nhà tiêu, cầu tiêu, hố xí, phòng vệ sinh, chuồng xí. ” Xí ” ( chữ Hán phồn thể : 廁 ; giản thể : 厕, bính âm : cè ) ở đây là từ Hán-Việt, chỉ nơi người ta đại tiểu tiện, tức nhà vệ sinh. Thời văn minh có những tên gọi vay mượn chỉ về nó như toa-lét ( toilet ), vê kép xê ( WC ) .

Các kiểu nhà vệ sinh[sửa|sửa mã nguồn]

  • Nhà tiêu tự hoại
  • Nhà tiêu hai ngăn

Tình hình vệ sinh[sửa|sửa mã nguồn]

Trên quốc tế[sửa|sửa mã nguồn]

Hiện nay (2007) có khoảng 2,6 tỷ người trên thế giới không được tiếp cận nhà vệ sinh sạch sẽ. Liên hợp quốc hy vọng sẽ giảm con số này xuống còn một nửa vào năm 2015 như một phần Các mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ đã đề ra.[2]

Tổ chức từ thiện Anh WaterAid đã lập list [ 3 ] những nước có trên 10 triệu người không được sử dụng nhà vệ sinh đúng tiêu chuẩn là Nga, România, Thổ Nhĩ Kỳ, México, Brasil, Ai Cập, Maroc và nhiều nước khác, trong đó Ấn Độ có 700 triệu người không được tiếp cận với nhà vệ sinh có mạng lưới hệ thống nước thải đúng quy cách .

Ở Nước Ta[sửa|sửa mã nguồn]

Qua một điều tra và nghiên cứu tìm hiểu trong năm 2006 do Bộ Y tế và UNICEF Việt Nam tiến hành, chỉ có khoảng chừng 15.6 % người được phỏng vấn thực hành thực tế rửa tay bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh, chỉ có 18 % hộ mái ấm gia đình và khoảng chừng 12 % trường học ở nông thôn Nước Ta có nhà tiêu hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn 08/2005 / QĐ-BYT do Bộ Y tế phát hành. Trong khi đó, Chương Trình Mục Tiêu Quốc gia về Cấp Nước và Vệ Sinh Môi trường Nông thôn lần II cho quy trình tiến độ 2006 – 2010 đề ra tiềm năng là đến năm 2010, 100 % trường học và 70 % những mái ấm gia đình ở nông thôn Nước Ta có nhà tiêu hợp vệ sinh. [ 4 ]Theo tìm hiểu của Cục Y tế dự trữ ( Bộ Y tế ) về thực trạng những khu công trình vệ sinh tại 966 điểm trường tại vùng nông thôn Nước Ta : trong tổng số điểm trường tìm hiểu chỉ có 72,7 % số điểm trường có nhà tiêu và chỉ có khoảng chừng 54 % nhà tiêu thuộc mô hình hợp vệ sinh ( trong đó chỉ có 11,7 % nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh ). Tỷ lệ điểm trường có nhà tiêu đạt tỷ suất thấp nhất là khối mần nin thiếu nhi : 52,4 %. Khối mần nin thiếu nhi cũng là khối có tỷ suất điểm trường có nhà tiêu thuộc mô hình hợp vệ sinh thấp nhất ( 39,5 % ) [ 5 ] việc xử lý nhu yếu sinh lý thông thường hàng ngày ở học đường luôn là nỗi bức xúc cố nén của học viên [ 6 ], thầy cô [ 7 ], cha mẹ, đại biểu Quốc hội và những nhà báo .

Liên kết ngoài[sửa|

sửa mã nguồn]

Có thể bạn quan tâm
Alternate Text Gọi ngay
XSMB